23 Tháng Tư 2014 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
 Các Sở KHCN Đóng

  
 Số lượt truy cập
Số Lượt Truy Cập :
Đang Trực Tuyến : 11
 Liên kết website Đóng

 
 

 

 

 

  
 Tiềm năng Đóng

CÁC LỢI THẾ VỀ ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN

 

1.1. Về địa lý:

a) Vị trí địa lý:

Tỉnh Dak Lak nằm giữa cao nguyên Nam Trung Bộ, có các trục đường giao thông quan trọng nối liền với nhiều tỉnh, thành phố như: Quốc lộ 14 nối Tp Đà Nẵng - Gia Lai, Ban Mê Thuột, đến Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và TP Hồ Chí Minh; Quốc lộ 26 nối Buôn Ma Thuột - Tp Nha Trang; quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột - Đà Lạt; Quốc lộ 28 từ Gia Nghĩa nối với thị xã Phan Thiết và một số tuyến đường khác nối liền với vùng Đông Bắc Căm Pu Chia... Bên cạnh đó, ĐắkLắk còn có cảng hàng không nối với Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà nẵng và Thủ Đô Hà Nội.

Cùng với các điều kiện thuận lợi về đất, rừng, tài nguyên khoáng sản, đây chính là một lợi thế quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, môi trường, an ninh quốc phòng và giao lưu hàng hóa... giữa ĐắkLắk với các thị trường trong nước và quốc tế, cho phép tỉnh xây dựng và phát triển một nền kinh tế mở.

b) kiểu địa hình:

- Kiểu địa hình núi.

+Vùng núi cao trung bình Chư Yang Sin: Nằm ở phía Đông Nam, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và cao nguyên Lâm Viên, Di Linh (Lâm Đồng), có nhiều đỉnh núi cao trên 1500 mét (trong đó cao nhất là đỉnh Chư Yang Sin 2442 m, Lang Biang 2167 m), độ dốc trung bình 15- 250 .

+Vùng núi thấp trung bình Chư Djú: Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, cao trung bình 600-700 mét, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, ngăn cách giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và thung lũng sông Ba (Gia Lai).

 - Kiểu địa hình cao nguyên.

Chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh, địa hình bằng phẳng, có hướng nghiêng và thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam; bao gồm 3 cao nguyên lớn:

+ Cao nguyên Buôn Ma Thuột: Trải dài từ Bắc xuống Nam trên 90 km, từ Đông sang Tây 70 km. Phía Đông Bắc cao gần 800m, phía Tây Nam còn khoảng 300 m. Bề mặt cao nguyên khá bằng phẳng, độ dốc từ 3- 150 rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp.

+ Cao nguyên M'Đrăk: Nằm ở phía Đông, cấu tạo chủ yếu là đá Granit và một phần đá Bazan phun trào. Độ cao trung bình 450 - 500 m, độ dốc từ 3 - 250, phần nhiều từ 8-150.Bề mặt cao nguyên có dạng lòng chảo, cao xung quanh và thấp dần ở trung tâm. Trên bề mặt nổi lên các đỉnh núi thấp và trung bình thấp       

- Kiểu địa hình bình nguyên Ea Súp.

    Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh, có địa hình bằng phẳng độ cao trung bình 200 - 300 mét,nghiêng dần từ Đông sang Tây và thấp nhất ở đoạn biên giới nơi sông Sê Rê Pôk chảy vào Căm Pu Chia.

 - Kiểu địa hình vùng thấp trũng Lăk

    Nằm giữa cao nguyên Buôn Ma Thuột và vùng núi Chư Yang Sin, có độ cao 400-500 mét. Đây là thung lũng của lưu vực các con sông thuộc hệ thống sông Sê Rê Pốk như sông Krông Ana, Krông Nô, bao gồm nhiều bãi phù sa cổ.

 a- Khí hậu.

Khí hậu Daklak tương đối ôn hoà, nhiệt độ trung bình hàng năm 230 - 240C, lượng ánh sáng dồi dào đến quanh năm; lượng mưa trung bình 2000 mm/năm; mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên và chia thành hai mùa rõ rệt:

  • Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, khí hậu ẩm và dịu mát.
  • Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khí hậu mát và lạnh đầu mùa, khô nóng cuối mùa, độ ẩm thấp, thường có gió mạnh từ cấp 4 đến cấp 6.

Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý và độ phân hoá địa hình làm cho khí hậu Daklak có sự phân hoá theo từng vùng khác nhau. Lượng mưa có thể chia thành ba vùng:

  • Vùng một: Cao nguyên Đăk Nông, lượng mưa : 2300mm.
  • Vùng hai : Trung tâm cao nguyên ĐắkLắk : 1600mm.
  • Vùng ba :  M'Đrăk và Đông Krông Buk : 1737mm.

b- Thuỷ văn.

 

Hệ thống sông suối trên địa bàn tỉnh khá phong phú, bao gồm 3 hệ thống sông chính:

 - Hệ thống sông Srepok, chảy theo hướng Tây Bắc đổ vào sông Mê Kông, gồm:

 + Sông Srepok là sông lớn nhất ĐắkLắk. Tổng diện tích lưu vực là 14420 km2, chiều dài chạy qua địa bàn tỉnh 341 km, lòng sông rộng 100 - 150 m. Mô đun dòng chảy bình quân trên lưu vực khoảng 20 lít/s/km2. Sông Srepok có 2 nhánh chính là sông Krông Ana và Krông Nô.

 + Sông Krông Ana: diện tích lưu vực khoảng 3960 km2, dài gần 120 km . Môđun dòng chảy bình quân 21 lít/s/km2.

 + Sông Krông Nô: diện tích lưu vực khoảng 3930 km2, môđun dòng chảy bình quân 34 lít/s/km2, phần hạ lưu dòng chảy tương đối gấp khúc.

 - Hệ thống sông Đồng Nai nằm ở phía Nam, phần chạy qua địa bàn tỉnh có tổng diện tích lưu vực là 3642 km2 , gồm 3 nhánh chính là suối Đak Tih, suối Đak Nông và suối Đak Rung.
- Hệ thống sông Ba, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh, đổ ra biển Đông, phần chảy trên địa bàn ĐắkLắk có diện tích lưu vực 1500 km2 , mô đun dòng chảy bình quân 37,5 lít/s/km2, bao gồm 2 nhánh chính là sông Krông Hin và sông Krông HNăng.

Bên cạnh hệ thống sông suối khá dày đặc, trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ tự nhiên và nhân tạo như hồ Lắk, Ea Kao, Buôn Triết, Ea Sô...

1.2. Về tài nguyên:

a) Tài nguyên đất:

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Daklak, đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols):

Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..

- Nhóm đất Gley (Gleysols):

Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lăk, Krông Ana và Krông Bông.

- Nhóm đất xám (Acrisols):

Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Daklak, phân bố ở hầu hết các huyện.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Daklak.

b) Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt

Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho ĐắkLắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc. Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh có khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sông Krông Ana thuộc các huyện: Krông Ana, Krông Pắc, Lăk và Krông Knô....

- Nguồn nước ngầm:

Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:

Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.

 c) Tài nguyên rừng:

 Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của ĐắkLắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Độ che phủ rừng đạt 46,62% (số liệu tính đến ngày 01/01/2004). Rừng ĐắkLắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng ĐắkLắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, các tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng ĐắkLắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yôk Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

d) Tài nguyên khoáng sản:

ĐắkLắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như Sét cao lanh (ở M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’DRăk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

 

 In Ấn   
 Thông báo Đóng
  
   Đóng
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN