26 Tháng Bảy 2014 Sở Khoa Học Công Nghệ Tĩnh ĐakLak Đăng Ký  Đăng Nhập
 
  
Chiến thắng Buôn Ma Thuột nhìn từ phía bên kia giới tuyến
 
                                                                                                         Nguyễn Ngọc Tý
                                                                  
 
            Mặc dù đã trải qua 31 năm, nhưng trận đánh lịch sử Buôn Ma Thuột (10/3/1975) như một mốc son chói lọi trong lịch sử quân sự Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước; trận đánh Buôn Ma Thuột (BMT) là trận đánh then chốt, mở đầu của chiến dịch tấn công Tây Nguyên năm 1975; là trận đánh điểm trúng huyệt, tạo đột biến cho cuộc Tổng tấn công đại thắng mùa Xuân năm 1975, trở thành một “thảm hoạ của một cuộc chiến tranh chia rẽ nhất, chua cay nhất trong lịch sử Mỹ kể từ ngày nội chiến”.
            Bỏ qua những lệch lạc trong quan điểm, đánh giá, nhận xét của các học giả, các nhà báo, các nhà nghiên cứu lịch sử Mỹ, các chính trị gia và tướng tĩnh của ngụy quyền Sài Gòn ...Những lý giải của họ về trận đánh BMT chỉ là những giải trình của đối phương, những người từ bên kia giới tuyến của cuộc chiến, nhưng cũng minh chứng nhiều điều về trận đánh lịch sử này.
            Việc lấy BMT là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên được Bộ Chính trị trực tiếp lựa chọn. Sự lựa chọn đó phản ánh sự đánh giá nhạy bén tình hình và nhãn quan chiến lược; nghệ thuật lãnh đạo quân sự tuyệt vời của cơ quan lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng ta biết ở thời điểm này, quân đội của ngụy quyền Sài Gòn với sự viện trợ của Mỹ vẫn còn rất mạnh về quân số, vũ khí và trang bị. Nhà báo, nhà sử học nguời Mỹ Ga-bri-en Côn-cô, tác giả cuốn sách “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” do nhà xuất bản Pantheon Books New York, ấn hành năm 1985 có viết: “Về mặt vật chất, quân đội Việt Nam Cộng hoà (VNCH), đầu năm 1975 có một ưu thế to lớn về số lượng trong tất cả các lĩnh vực so với Cách mạng... Những con số cho thấy rằng quân đội VNCH là một quân đội đáng sợ, chỉ cần nó dám chiến đấu thôi. Nó có 1.400 cỗ súng lớn so với 400 của Cách mạng, 1.200 xe tăng và xe bọc thép chở quân so với 600 của Quân đội nhân dân Việt Nam... không quân có 1.400 máy bay, có khoảng 185.000 quân chiến tranh, 107.000 quân yểm trợ... Nghĩa là VNCH có ưu thế hai trên một về quân chiến đấu và một ưu thế chung ba trên một về toàn bộ lực lượng”(1).
            Về đạn dược của quân đội VNCH, nhà sử học người Mỹ so sánh: “Quân đội VNCH bắn đạn súng lớn gấp 9 lần phía Cộng sản và kho đạn của họ từ tháng 9 năm 1974 đến tháng 3 năm 1975 đã tăng lên hai phần ba dự trữ khổng lồ đã có khi ký Hiệp định Pari. Người đứng đầu cơ quan hậu cần của VNCH về sau thừa nhận: các đơn vị chiến đấu chưa bao giờ thiếu đạn khi lâm trận với kẻ thù và không có cuộc hành quân nào phải hoãn lại vì thiếu đạn(2).
            Riêng trên địa bàn Tây Nguyên, trong năm 1973, quân địch đã “tăng thêm 20.000 quân, đưa tổng số quân lên 81.000 tên, trong đó quân chủ lực chiếm 46.000 tên, 12 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn thiết giáp, sư đoàn 6 không quân với 190 máy bay. Chúng đã huy động lực lực lượng tiến hành 18 cuộc hành quân đánh phá, xúc tát hàng vạn dân đưa về vùng tạm chiếm. Đóng thêm 43 đồn (riêng Dak Lak 15 đồn)”(3)
           
            Với một đội quân đông đảo, trang bị các loại vũ khí, đạn dược đến tận răng. Tại sao Mỹ - Ngụy lại thất thủ tại BMT? Đây là một câu hỏi lớn đối với chế độ ngụy quyền Sài Gòn và các chiến lược gia quân sự Hoa Kỳ. Nhưng qua các tài liệu, sách, báo, lời thú nhận của các kẻ bại trận đã lý giải được phần nào nguyên nhân chiến thắng của quân và dân ta: “Cuối năm 1974, khi diệt các tiểu đoàn biệt động trên điểm cao Kôn Rôk ở Đông bắc Kon Tum, ta đã bắt được một tên thiếu tá ngụy. Khi hỏi cung, y khai:Vùng hai chiến thuật (ngụy) phán đoán: năm 1975, Việt cộng ở Tây Nguyên có khả năng sẽ đánh lớn. Nhưng hiện nay các ông đang đứng trước 3 sự lựa chọn mục tiêu tiến công: BMT; Pleicu hay Kon Tum? Nếu đánh BMT, thì hiện nay các ông chưa có khả năng đưa vật chất, hậu cần và xe tăng để tấn công... Khả năng duy nhất còn lại của các ông là sẽ tiến công vào Kon Tum...(4).
            Thực tế của chiến trường Tây Nguyên lúc này, nếu tiến công vào Kon Tum ta có khá nhiều thuận lợi, nhưng ta không chọn Kon Tum làm mục tiêu tiến công, mà chỉ lấy Kon Tum làm nơi nghi binh, đánh lừa thu hút địch, mục tiêu tiến công là BMT. Lý giải vấn đề này, Ga-bri en Côn-cô phân tích:
           “Quyết định của Đảng, tiến công cao nguyên Trung bộ đã xảy ra vào lúc vị trí của VNCH trong khu vực đặc biệt suy yếu. Những bộ tộc miền núi trong các đơn vị vũ trang địa phương của VNCH, đặc biệt là quanh BMT, công khai chống lại Thiệu, nhất là vì sự cướp bóc của quân đội Việt Nam Cộng hòa. Họ không muốn báo cáo việc di chuyển rất nhiều Quân đội nhân dân Việt Nam vào khu vực trong tháng 2. Tinh thần quân đội Việt Nam Cộng hòa ở cao nguyên cũng như ở khắp các nơi khác, tỷ lệ nghiện ma tuý được báo cáo 30% ở vùng Plei cu và ma tuý là do sỹ quan bán cho. Tuy vậy, tình báo của quân đội Việt Nam Cộng hòa biết trước rằng vào giữa tháng 2 rằng: một cuộc tấn công lớn sắp xảy ra ở cao nguyên và BMT là mục tiêu chính”(5).Mặc dù được trưởng phòng tình báo vùng chiến thuật II ngụy cảnh báo, nhưng với nghệ thuật nghi binh tài tình của quân ta, làm cho quân địch như vào đám mây mù dày đặc không thấy đường ra. Ngày 1/3/1975, Phạm Văn Phú, Tư lệnhvùng chiến thuật II điện cho chuẩn tướng Phạm Duy Tấn, phụ tá của Phú , kiêm Tư lệnh biệt động quân: “sẵn sàng đối phó với Việt cộng tấn công vào Plei cu”(6)
           Chính vì vậy, “Cuộc tấn công BMT sáng sớm ngày 10/3. Các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu rất tốt, gây được bất ngờ và chặn được mọi tiếp viện đến thành phố”(7).
            Kết quả của một trận đánh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, theo cách nhìn của Côn-Cô, việc quân đội Việt Nam Cộng hòabại trận ở BMT không phải là vấn đề vật chất mà là vấn đề tinh thần và lãnh đạo, là vấn đề thế trận lòng dân. Nhân dân các dân tộc Dak Lak có tinh thần cảnh giác, bảo vệ bí mật cho cách mạng. Trong lúc bộ đội cưa cây, ủi đường, cho xe tăng, pháo vào thị xã, căng dây điện trong rừng để liên lạc... nhân dân đi lại làm ăn, đã gặp, đã thấy nhưng vẫn giữ im lặng, bí mật tuyệt đối cho các hoạt động của quân ta; về vấn đề này, một nhà báo phương Tây đã viết: “Mỹ giúp ngụy quyền miền Nam mấy chục năm nhưng không có kết quả gì cả. Đối phương đã đưa lực lượng lớn, cả pháo binh, xe tăng vào BMT mà người Thượng không báo gì cho nhà cầm quyền, điều đó chứng tỏ ít nhất là họ đồng tình với phía cách mạng”(8). Nói về quân đội VNCH, Côn-Cô nêu rõ: “Tinh thần quá sa sút, cho nên không sao cứu chữa được, một nỗi bi quan
 
tuyệt vọng và một cảm giác tận số đang lơ lửng trên đầu, binh lính bỏ đơn vị và vũ khí để tìm gia đình, tạo ra một sự hỗn loạn cực độ, nổi loạn, cướp bóc, hiếp dâm xảy ra khắp nơi trên đường rút chạy...”(9).
             Một điều thú vị, quý giá hơn là người Mỹ qua trận thảm bại ở BMT, từ thực tế chứng kiến qua cuộc chiến tranh, họ đã rõ sức mạnh kỳ diệu của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam: “Đạo đức cách mạng khẳng định ý thức tác động đến quá trình lịch sử bằng chính bản thân nó. Cách mạng không tính đến so sánh vật chất nếu cách mạng không muốn trở thành thành thần bí hoặc chủ nghĩa lãng mạn, nhưng Cách mạng khẳng định vai trò thiết yếu của trách nhiệm và hành động cá nhân. Một quan niệm về vai trò của quần chúng trong các sự kiện lớn và trong lịch sử đưa lại lòng tin và trở thành một phần sức mạnh. Đảng không bao giờ trở thành một Đảng của những ông Thánh cách mạng, nhưng Đảng đã tìm được cách tập hợp một số rất lớn đàn ông và đàn bà mà đạo đức và lòng tận tụy với sự nghiệp là rất cao. Họ có những hy sinh to lớn và chịu muôn vàn thiếu thốn và một mình họ đã làm cho Đảng đóng được vai trò của mình trong lịch sử. Chính qui mô thắng lợi của Đảng mới đáng chú ý, như thể sức ép liên tục của cuộc đấu tranh dai dẳng đã thêm sức mạnh cho đảng viên và họ sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp. Bên trong sự cam kết của họ là một sự tổng hợp của lòng tin và sự chắc chắn ở tương lai...”(10).
            Những người bên kia giới tuyến của cuộc chiến không thể hiểu được rằng: cội nguồn của chiến thắng BMT là sức mạnh to lớn của dân tộc Việt Nam được hun đúc hơn 4.000 năm lịch sử, sự lãnh đạo tài tình của Đảng, của Hồ Chủ tịch, là mưu trí, sáng tạo, quyết đoán của Bộ chỉ huy chiến dịch, là đức tính chiến đấu kiên cường, là hy sinh cao cả của bộ đội chủ lực, quân và dân các dân tộc Dak Lak - với chiến thắng BMT, một lần nữa khẳng định tính chất phi nghĩa cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, tính chất hèn nhát, thảm hại của ngụy quyền Sài Gòn ...
            Năm tháng dù có qua đi, nhưng chiến thắng BMT vẫn mãi là mốc son không thể phai mờ trên chặng đường đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa - Đương nhiên người Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn, chủ nhân của bại trận làm sao nhìn rõ được bức tranh toàn cảnh của chiến thắng nhiều màu sắc ở BMT. Chỉ có những Con Người làm nên lịch sử mới có đủ thông minh để nhận chân thắng lợi. Mong rằng, người Mỹ và các thế lực thù địch, lau đi vết bụi của thời gian để nhận rõ mình hơn qua trận thảm bại ở BMT, hai dân tộc Việt - Mỹ cùng nhau khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, tăng cường mối quan hệ vì lợi ích chung của hai dân tộc.
                                                 
Chú thích:
(1)Ga-Brien Côn-cô, Giải phẫu cuộc chiến tranh - Pantheon Books New York - 1985(Bản dịch của nhà xuất bản Quân đội nhân dân) trang 210 - 211.
(2)&( 3) Huỳnh Nghĩ - BMT, trận đánh lịch sử - NXB Trẻ - 2000 - trang 32 -50.
(4) Ga-Bren Côn-cô, Giải phẫu cuộc chiến tranh - Pantheon Books New York – 1985 (Bản dịch của nhà xuất bản Quân đội nhân dân) trang 210 - 211.
(5) Côn-cô - sách đã dẫn - trang 215 -218.
(6) Huỳnh Nghĩ - sách đã dẫn - trang 50.
(7) Côn cô - sách đã dẫn - trang 215 -218.
(8) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Dak Lak 1945 - 1975 trang 190 -NXB chính trị quốc gia Hà Nội 2003.
(9) Côn-cô - sách đã dẫn - trang 215 -218.
(10)Côn-cô - sách đã dẫn - trang 255.

Ngày gửi:21/04/2007 Số lần xem:4595

Quay Về
  
Bản quyền thuộc Sở Khoa học và Công nghệ ĐắkLắk
Địa chỉ: số 11A Trần Hưng Đạo - TP Buôn Ma Thuột - ĐắkLắk - ĐT: (0500) 3952400 Fax: (0500) 3952900
Giấy phép số: 306/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ VH-TT cấp ngày 18/07/2007 -
©Phát triển bởi: - Trung tâm Tin học và Thông tin KHCN - Phòng Quản lý Công nghệ và TK KHCN